Page 6 - Báo cáo kinh tế vĩ mô TPHCM
P. 6
3
Hình 1: GDP và lạm phát cơ bản của Việt Nam
Nguồn: Tổng Cục Thống Kê và ước tính của nhóm nghiên cứu
Hộp khái niệm
Sản lượng tiềm năng là thước đo khả năng sản xuất hàng hóa và dịch vụ của
một nền kinh tế. Đây là mức sản lượng mà nền kinh tế có thể duy trì sản xuất
một cách bền vững theo thời gian. Hiểu một cách nôm na, sản lượng tiềm năng
là mức sản lượng mà ở đó bộ máy sản xuất của nền kinh tế có thể vận hành
đúng với công suất thiết kế, không bị quá tải và cũng không hoạt động dưới công
suất. Sản lượng tiềm năng quyết định khả năng cung ứng của một nền kinh tế.
Sản lượng tiềm năng của một nền kinh tế hiện đại phần lớn được quyết định bởi
khối lượng vốn (bao gồm nhà xưởng, máy móc, thiết bị), lực lượng lao động cốt
lõi, cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực, công nghệ và thể chế quản lý kinh
tế. Bởi vì các yếu tố này có xu hướng thay đổi ổn định theo thời gian, sản lượng
tiềm năng cũng tăng trưởng ổn định theo thời gian. Sản lượng tiềm năng được
đo lường bằng cách ước tính GDP/GRDP tiềm năng.
Sản lượng thực tế là mức sản lượng hàng hóa và dịch vụ mà nền kinh tế thực sự
sản xuất ra. Đây là mức sản lượng thống kê được trong thực tế và được quyết
định bởi tổng cầu hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế. Tùy vào tổng cầu cao
hay thấp mà bộ máy sản xuất của nền kinh tế sẽ sản xuất ra khối lượng hàng
hóa và dịch vụ tương ứng để cung cấp. Sản lượng thực tế được đo lường bằng
GDP/GRDP theo giá so sánh.
Khi tổng cầu hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế cao hơn mức sản lượng tiềm
năng, tức vượt quá công suất thiết kế của bộ máy sản xuất, bộ máy sản xuất
sẽ bị quá tải và bộc lộ nhiều điểm nóng. Ngược lại, khi tổng cầu thấp hơn mức
sản lượng tiềm năng, tức thấp hơn công suất thiết kế của bộ máy sản xuất, bộ
máy sản xuất sẽ hoạt động dưới công suất và các yếu tố đầu vào (lao động, nhà

